Ý nghĩa xét nghiệm viêm gan C

Để xác định một người có bị nhiễm virus viêm gan C hay không, bác sĩ thường chỉ định 02 xét nghiệm là xét nghiệm HCV-ARN và xét nghiệm Anti-HCV. Tùy theo thực tế mà sẽ thực hiện 1 hoặc cả 2 xét nghiệm này. Cụ thể như thế nào, mời Quý vị theo dõi nội dung dưới đây.

ý nghĩa xét nghiệm viêm gan C xét nghiệm anti hcv hc arn
Xét nghiệm viêm gan C giúp phát hiện sớm bệnh viêm gan C và giúp theo dõi, đánh giá quá trình điều trị bệnh

1. Tổng quan về bệnh viêm gan C

Bệnh viêm gan siêu vi C là một bệnh truyền nhiễm, chủ yếu ảnh hưởng đến gan, do siêu vi viêm gan C (HCV) gây ra. Bệnh thường không có triệu chứng, nhưng khi bệnh tiến triển thành viêm gan mạn tính có thể dẫn đến mô sẹo ở gan và cuối cùng là xơ gan. Trong một số trường hợp, bệnh nhân xơ gan sẽ bị suy gan, ung thư gan hoặc thực quản và giãn tĩnh mạch dạ dày, có thể gây tử vong. Tỷ lệ nhiễm HCV trên thế giới khoảng 13% dân số.

Người nhiễm HCV có diễn tiến bệnh nghiêm trọng hơn so với virus viêm gan B, với tỷ lệ cao gây viêm gan cấp, viêm gan mạn, tiến triển thành xơ gan, ung thư tế bào gan. Tuy nhiên, nếu phát hiện bệnh sớm và điều trị đúng hướng, viêm gan C có thể được chữa khỏi với xác suất thành công khá cao.

2. Xét nghiệm viêm gan C là gì?

Vật liệu di truyền của virus HCV là ARN, xuất hiện từ 2 tuần sau khi phơi nhiễm, sớm hơn rất nhiều so với kháng thể kháng HCV (từ 5-10 tuần). Xét nghiệm viêm gan C phát hiện ARN và định lượng virus HCV bằng phương pháp PCR được xem là phương pháp có độ nhạy cao nhất, có thể phát hiện virus HCV ngay cả khi nồng độ virus trong máu còn rất thấp. Đây còn là phương pháp cận lâm sàng quan trọng để đánh giá và kiểm soát nhiễm HCV mạn tính và được sử dụng để tiên lượng và theo dõi hiệu quả của liệu pháp điều trị.

Trong kỹ thuật này, mẫu huyết tương hoặc huyết thanh của bệnh nhân được sử dụng để tách chiết ARN. Sau đó, ARN được phiên mã ngược thành cADN và khuếch đại bằng phản ứng chuỗi trùng hợp PCR. Trong mỗi chu kỳ khuếch đại, bộ đọc tín hiệu trong máy PCR ghi nhận tín hiệu huỳnh quang từ mẫu dò đặc hiệu với vật liệu di truyền của virus. Tín hiệu huỳnh quang này được sử dụng để tính toán nồng độ virus HCV trong mẫu.

3. Chỉ định xét nghiệm viêm gan C

Chỉ định xét nghiệm viêm C được áp dụng đối với bệnh nhân thuộc ít nhất một trong các trường hợp sau:

  • Có biểu hiện của viêm gan C cấp;
  • Nghi ngờ phơi nhiễm viêm gan C;
  • Có anti-HCV dương tính;
  • Chỉ định trong đánh giá và theo dõi bệnh nhân điều trị viêm gan C.

4. Ý nghĩa xét nghiệm viêm gan C

4.1.Ý nghĩa xét nghiệm HCV-ARN trong chẩn đoán:

– Xác định viêm gan C cấp: Sau 02 tuần phơi nhiễm, xét nghiệm HCV-ARN cho kết quả dương tính, khi đó cơ thể chưa xuất hiện kháng thể kháng HCV (cần 5-10 tuần). Bệnh nhân được chẩn đoán là viêm gan C cấp khi có HCV-ARN dương tính nhưng anti-HCV âm tính.

– Xác định viêm gan C mạn: Khoảng 80% số người nhiễm HCV chuyển sang viêm gan C mạn tính. Bệnh nhân được chẩn đoán là viêm gan C mạn tính khi có HCV-ARN dương tính và Anti-HCV dương tính. Trong trường hợp này, xét nghiệm HCV-ARN có thể thay bằng xét nghiệm kháng nguyên lõi của HCV (HCV coreAg).

– Xác định viêm gan C ở trẻ em:

  • Trẻ em < 18 tháng tuổi: Trẻ được chẩn đoán là nhiễm HCV khi có ít nhất hai lần HCV-ARN dương tính. Xét nghiệm HCV-ARN được thực hiện lúc trẻ 6 tháng và 12 tháng.
  • Trẻ em trên 18 tháng tuổi: Được chẩn đoán nhiễm HCV khi HCV-ARN dương tính và anti-HCV dương tính.

4.2. Ý nghĩa xét nghiệm viêm gan C, HCV-ARN trong điều trị

– Ý nghĩa trong chỉ định điều trị:

  • Chỉ định điều trị khi người bệnh có HCV-RNA dương tính và anti-HCV dương tính.
  • Trước khi bắt đầu điều trị, cần theo dõi HCV-RNA ít nhất 12 tuần sau chẩn đoán, để xác định khả năng thải trừ virus tự nhiên: nếu HCV-RNA dương tính sau 12 tuần theo dõi mới bắt đầu điều trị.

– Ý nghĩa trong theo dõi sau điều trị:

  • Điều trị khỏi bệnh viêm gan vi rút C là khi người bệnh đạt đáp ứng vi rút bền vững: tải lượng HCV RNA dưới ngưỡng phát hiện (< 15 IU/ml) ở tuần thứ 12 sau khi kết thúc điều trị, gọi là SVR 12. Khi người bệnh sử dụng phác đồ điều trị có Peginterferon thì tải lượng HCV RNA phải dưới ngưỡng phát hiện ở tuần thứ 24 sau khi kết thúc điều trị: SVR 24.

– Ý nghĩa trong chỉ định thay đổi phác đồ điều trị:

  • Tại tuần thứ 4 của quá trình điều trị, nếu kết quả định lượng HCV RNA trên ngưỡng thì cần xét nghiệm định lượng HCV RNA tại tuần thứ 8. Nếu HCV RNA tăng >10 lần (> 1 log10 IU/ml) thì ngừng điều trị và thay đổi phác đồ đang sử dụng.

5. Yếu tố ảnh hưởng kết quả xét nghiệm viêm gan C

  • RNA của virus là vật liệu di truyền không bền, dễ bị phân hủy. Do vậy, xét nghiệm nên được tiến hành sớm sau khi lấy mẫu để tránh kết quả bị giảm số lượng.
  • Xét nghiệm có thể được thực hiện bằng mẫu huyết tương hoặc huyết thanh, tuy nhiên việc tạo thành cục máu đông có thể làm giảm số lượng virus trong huyết thanh. Do vậy khuyến khích sử dụng ống EDTA để thực hiện xét nghiệm.
  • Không sử dụng ống chống đông Heparin do có thể bị ức chế phản ứng PCR.

6. Lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển xét nghiệm viêm gan C

  • Lấy mẫu: 2 ml máu toàn phần vào ống EDTA hoặc ống Serum.
  • Bảo quản vận chuyển: Bảo quản nhiệt độ phòng 18 25 độ C, tối đa trong vòng 24h phải chuyển tới phòng xét nghiệm. Hoặc giữ ở tủ mát 28 độ C và chuyển tới phòng xét nghiệm trong vòng 2 ngày. Trong trường hợp chưa vận chuyển được ngay, có thể tách huyết tương hoặc huyết thanh và giữ ở nhiệt độ 20 độ C cho đến khi vận chuyển.

ThS. Phạm Trần Vũ Thư, PGS. TS. Bạch Khánh Hòa

Tài liệu tham khảo:

  1. Quyết định 5012/QĐBYT năm 2016 Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan virus C do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành
  2. Mita E, Hayashi N, Hagiwara H, Ueda K, Kanazawa Y, Kasahara A, Fusamoto H, Kamada T. Predicting interferon therapy efficacy from hepatitis C virus genotype and RNA titer. Dig Dis Sci. 1994;39:97798
  3. Laure Stella Ghoma Linguissi, Celine Nguefeu Nkenfou. BMC Res Notes. 2017; 10: 665.

Bình luận

Scroll to Top